Bệnh viêm đại trực tràng xuất huyết là căn bệnh gây viêm loét và chảy máu ở lớp niêm mạc đại trực tràng .Bệnh nhẹ thì chỉ khiến bệnh nhân bị đi cầu ra máu trong vài ngày, bệnh nặng có thể khiến bệnh nhân đối diện với nhiều biến chứng nguy hiểm như chảy máu ồ ạt, phình giãn đại tràng do nhiễm
Xuất huyết đại tràng có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm tới tính mạng Viêm loét đại trực tràng xuất huyết cần được theo dõi thường xuyên 6 tháng một lần bằng cách soi đại tràng và sinh thiết đại tràng. Để có thể phát hiện sớm kịp thời giai đoạn đầu của tiến triển ung thư.
Xuất huyết tiêu hóa cao (trên) là tình trạng thường gặp ở nhiều người. Nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, đúng cách, xuất huyết tiêu hóa cao có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm và đe dọa đến tính mạng của người bệnh. Điều trị xuất huyết
Xuất huyết đại tràng Niêm mạc đại tràng bị viêm loét kéo dài có thể dẫn đến xuất huyết ở đại tràng. Khi đó, người bệnh có thể đi cầu ra máu, phát hiện đàm nhớt trong phân. Nếu nặng nề hơn, khi đi cầu người bệnh sẽ thấy máu chảy ồ ạt. Xuất huyết đại tràng kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng thiếu máu. Vì vậy, biến chứng này được xem là khá nguy hiểm.
Xuất huyết đại tràng là hiện tượng đại tràng có triệu chứng viêm loét, kèm theo rối loạn chức năng dẫn đến chảy máu đại tràng. Bệnh viêm đại tràng xuất huyết gặp ở mọi đối tượng, độ tuổi và có thể tái phát nhiều lần. Đặc biệt, tỷ lệ người trẻ mắc
1. Chỉ định nội soi đại tràng - Đi ngoài ra máu kéo dài theo dõi xuất huyết đường tiêu hóa dưới - Thiếu máu không rõ nguyên nhân - Polyp đại tràng, khối u đại tràng, tổn thương mạch máu - Trĩ - Điều trị cầm máu trong những tổn thương chảy máu đại tràng. 2.
zdIzeM. Bài viết được viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Phạm Thị Mai Thanh - Khoa Nội tổng hợp - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City Túi thừa đại tràng là bệnh lý thường gặp ở người lớn tuổi, thường không biểu hiện triệu chứng, Biến chứng xuất huyết xảy ra do vỡ một mạch máu ở túi thừa đại tràng. Máu tươi chảy ra nhiều từ hậu môn hoặc có khi tiêu phân sậm, màu gỗ gụ, khi xuất huyết xảy ra ở túi thừa đại tràng phải. Chảy máu túi thừa đại tràng là một trong những nguyên nhân thường gặp của đại tiện phân máu phân có màu nâu hoặc đỏ tươi . 15% bệnh nhân có túi thừa đại tràng bị chảy máu túi thừa trong đó một phần ba là chảy máu nặng. Đa phần chảy máu túi thừa xảy ra ở đại tràng phải chiếm 50-90% Chảy máu túi thừa tự cầm máu ở 75% bệnh nhân nhưng có nguy cơ chảy máu tái phát cao tới 50% sau khi chảy máu lần 2. Mặc dù nhiều bệnh nhân chảy máu túi thừa cao tuổi và có nhiều bệnh phối hợp nhưng tỷ lệ tử vong do chảy máu túi thừa đại tràng chỉ khoảng 10-20%.Triệu chứng Đại tiện phân máu mà không đau bụng là triệu chứng điển hỉnh của chảy máu túi thừa, tuy nhiên một vài bệnh nhân có triệu chứng chướng bụng, quặn bụng hoặc đại tiện sàng Bệnh nhân thường có huyết áp bình thường nếu chảy máu đã dừng. Tuy nhiên bệnh nhân có thể có mạch nhanh và huyết áp thấp nếu đang chảy máu hoặc chảy máu ồ ạt. Da khô, chùng nhão, tiểu ít và thay đổi ý thức là dấu hiệu của mất máu nghiệm Ban đầu lượng huyết sắc tố hemoglobin của bệnh nhân chảy máu tiêu hóa thường ở mức bình thường do bệnh nhân mất máu toàn phần nhưng sau 1 thời gian hemoglobin bắt đầu giảm do pha loãng bởi dịch ngoài huyết quản chảy vào trong huyết quản hoặc dịch truyền vào trong quá trình hồi sức. Lượng huyết sắc tố của bệnh nhân chảy máu túi thừa sẽ giảm do bị pha loãng bởi dịch Chẩn đoán Chảy máu túi thừa đại tràng được chẩn đoán bằng nội soi đại tràng hoặc chụp X- quang. Cần nội soi đại tràng để xác định vị trí chảy máu và can thiệp cầm máu sau khi đã điều trị hồi sức cấp cứu xong, huyết động ổn định, đã loại trừ chảy máu đường tiêu hóa trên chảy máu dạ dày . Nếu nội soi đại tràng thất bại, không tìm được điểm chảy máu thì chụp nhấp nháy hoặc chụp mạch để xác định vị trí chảy máu. 2. Điều trị chảy máu túi thừa đại tràng Hồi sức cấp cứu truyền dịch, hồng cầu khối, điều trị rối loạn đông máu nếu có, bệnh nhân huyết động không ổn định cần nằm theo dõi tại khoa hồi sức tích thiệp cầm máu nếu chảy máu không tự cầm + Nếu nội soi đại tràng phát hiện vị trí đang chảy máu hoặc có mạch máu lộ => can thiệp nội soi cầm máu tiêm epinephrine, đốt điện , nội soi kẹp vị trí xuất huyết bằng clip, thắt vòng cao su ...+ Nếu vị trí chảy máu không phát hiện được bằng nội soi đại tràng hoặc cầm máu nội soi thất bại thì phương pháp thay thế là chụp mạch angiography và nút mạch embolization + Nếu cả nội soi đại tràng và chụp mạch đều thất bại hoặc huyết động không ổn định mặc dù hồi sức tích cực thì cần can thiệp phẫu thuật cắt đoạn đại tràng. Phẫu thuật nội soi cắt đoạn đại tràng mang lại hiệu quả cao trong điều trị bệnh Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã triển khai phương pháp Phẫu thuật nội soi cắt đại tràng phải và nạo vét hạch. theo đó, các bác sĩ sẽ cắt các túi thừa đại tràng bị viêm với nhiều ưu điểm như sauKhông bị hạn chế tầm nhìn như truyền thống, hình ảnh chất lượng tối ưu với độ chính xác cao đau sau năng đại tràng phục hồi mổ thiểu nguy cơ nhiễm trùng vết bảo thẩm phục sau mổ nhanh, thời gian nằm viện chóng sinh hoạt lại bình thống trang thiết bị hiện đại như hệ thống máy nội soi hiện đại Olympus CV 180 cho phép phát hiện các tổn thương rất nhỏ chỉ vài milimet và xác định chính xác vị trí các tổn thương, phương pháp nội soi với dải tần ánh sáng hẹp NBI đã tạo nên một bước đột phá đối với sàng lọc và chẩn đoán ung thư ống tiêu hóa thực quản, dạ dày, tá tràng và cả đại tràng, trực tràng ở giai đoạn sớm và giai đoạn rất độ gây mê, gây tê và giảm đau sau mổ rất tốt, đi đầu trong việc ứng dụng các phương pháp gây mê - gây tê hàng đầu thế có nhu cầu tư vấn và thăm khám tại các Bệnh viện Vinmec thuộc hệ thống Y tế trên toàn quốc, Quý khách vui lòng đặt lịch trên website để được phục vụ. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Túi thừa đại tràng – Các yếu tố nguy cơ Rối loạn chức năng sau cắt đại tràng - trực tràng Phẫu thuật điều trị ung thư đại – trực tràng Khi nào cần thực hiện?
Viêm đại tràng xuất huyết là triệu chứng nghiêm trọng của bệnh lý đường tiêu hóa. Bệnh gây viêm, loét đại tràng, chảy máu và làm rối loạn các chức năng của đại tràng. Người bệnh cần nhận biết bệnh sớm và điều trị bệnh kịp thời để tránh gây ra các biến chứng nguy xem nhanh 11. Viêm đại tràng xuất huyết là bệnh gì?2. Nguyên nhân gây bệnh viêm đại tràng xuất Yếu tố miễn Yếu tố nhiễm Yếu tố môi Yếu tố tâm lý3. Dấu hiệu nhận biết viêm đại tràng xuất Giai đoạn Giai đoạn Giai đoạn nghiêm trọng4. Biến chứng nguy hiểm của viêm đại tràng xuất Suy nhược cơ Phình giãn đại tràng nhiễm Chảy máu ồ Ung thư hóa5. Điều trị viêm đại tràng xuất Điều trị nội khoa viêm đại tràng xuất huyếtNguyên tắc điều trịLưu ý Điều trị ngoại khoa viêm đại tràng xuất huyết6. Những lưu ý cho người bệnh viêm loét đại tràng1. Viêm đại tràng xuất huyết là bệnh gì?Viêm đại tràng xuất huyết hay viêm đại tràng chảy máu là bệnh mãn tính, có tính chất tự miễn, gây viêm loét, tổn thương và chảy máu nhiều lần ở vùng đại tràng. Bệnh gây tổn thương lan tỏa ở lớp niêm mạc và dưới niêm mạc, không xâm phạm đến lớp cơ. Vị trí tổn thương chủ yếu ở vùng trực tràng và giảm dần cho đến đại tràng viêm đại tràng chảy máu là bệnh về đường tiêu hóa phổ biến và đang có xu hướng gia tăng ở các nước phát triển. Nguyên nhân gây bệnh chưa rõ ràng nhưng thường xảy ra ở người trưởng thành trong độ tuổi từ 15-40 biểu hiện chủ yếu của bệnh là đau bụng, tiêu chảy phân máu kèm theo hiện tượng sốt, sụt cân, mất máu…. Do các triệu chứng không đặc hiệu nên bệnh thường không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Vì vậy, việc phát hiện bệnh sớm và điều trị bệnh kịp thời là điều cần thiết để tránh phát sinh các biến chứng nguy đại tràng xuất huyết là tình trạng tổn thương gây chảy máu nhiều lần ở đại tràng2. Nguyên nhân gây bệnh viêm đại tràng xuất huyếtHiện nay, nguyên nhân gây bệnh xuất huyết đại tràng chưa được xác định rõ ràng. Qua nhiều kết quả nghiên cứu, bệnh có liên quan đến các yếu tố sau Yếu tố miễn dịchTheo nghiên cứu, có đến khoảng 80% người bệnh dương tính với kháng thể PANCA. Đặc biệt, tỷ lệ dương tính này sẽ cao hơn nếu người bệnh bị viêm loét đại tràng chảy máu kết hợp với viêm xơ chít hẹp đường mật tiên phát. Ngoài ra, việc rối loạn miễn dịch đại tràng cũng là cơ hội để vi khuẩn, virus tác động gây viêm, loét và chảy máu đại Yếu tố nhiễm khuẩnNhiễm trùng đường ruột do vi khuẩn, virus là tác nhân trực tiếp gây ra các tổn thương trên niêm mạc đại tràng. Dưới sự tác động của nhiều yếu tố, những thương tổn này có thể phát triển sâu hơn, rộng hơn dẫn tới viêm loét và chảy máu. Yếu tố nhiễm khuẩn có thể gây khởi phát hoặc tái phát bệnh. Trong trường hợp tái phát, bệnh thường liên quan đến các vi khuẩn gây nhiễm trùng đường ruột như Campylobacter, Shigella,… Yếu tố môi trườngChế độ ăn uống kém khoa học như ăn nhiều đồ cay nóng, đồ chiên rán cùng với việc sử dụng thức uống có cồn, chất kích thích,… có thể gây tổn thương đại trực tràng và là yếu tố khiến bệnh ngày càng trở nên trầm cạnh đó, phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai thường xuyên có nguy cơ mắc viêm loét đại tràng cao gấp 2,5 lần so với người bình thường. Ngoài ra, nhiều loại thuốc điều trị cũng gây ra các tác động xấu với hệ tiêu hóa. Do đó, người bệnh cần sử dụng thuốc đúng liều, đúng lượng, đúng thời gian để hạn chế biến Yếu tố tâm lýSức khỏe tâm sinh lý cũng là một trong các yếu tố dẫn tới nhiều bệnh lý đường tiêu hóa, trong đó có viêm đại tràng xuất huyết. Với những trường hợp đã có tổn thương đại tràng, nếu người bệnh thường xuyên bị căng thẳng hay stress kéo dài sẽ khiến bệnh càng trở nên trầm trọng đó, kiểm soát tốt các yếu tố trên không những giúp phòng ngừa bệnh lý viêm loét đại tràng mà còn hỗ trợ cải thiện sức khỏe đường tiêu hóa. Trong trường hợp bệnh đã điều trị khỏi, duy trì chăm sóc và hạn chế các yếu tố nguy cơ là việc làm cần thiết để tránh tái phát Dấu hiệu nhận biết viêm đại tràng xuất huyếtViêm đại tràng xuất huyết gây ra các triệu chứng như đau bụng, xuất huyết tiêu hóa nhiều lần trong ngày, phân có nhầy máu kèm theo tình trạng sốt và giảm cân. Tùy theo mức độ tổn thương mà bệnh sẽ có dấu hiệu và triệu chứng khác nhau. Cụ thể Giai đoạn nhẹ– Người bệnh không có sự thay đổi nào về thể trạng, không bị thiếu máu hoặc giảm protein máu.– Người bệnh đại tiện dưới 4 lần/ngày, có thể có lẫn máu nhầy hoặc không.– Người bệnh thương bị đau bụng nhẹ hoặc chuột rút, mót rặn khi đại tiện.– Bệnh thường khu trú ở trực tràng hoặc đại tràng sigma, ít khi có tổn thương ở vị trí cao hơn, các biểu hiện ngoài ruột cũng rất hiếm gặp. Theo thời gian, bệnh tiến triển trầm trọng hơn, các biểu hiện của bệnh ngày càng tăng và rõ Giai đoạn nặng– Người bệnh đi đại tiện dưới 6 lần/ngày, phân lẫn máu nhầy.– Người bệnh thường xuyên xuất hiện các cơn đau quặn bụng.– Sốt nhẹ từ 38-39°C, có biểu hiện thiếu máu nhẹ, nồng độ protein máu giảm khiến người bệnh luôn trong trạng thái mệt mỏi– Đau rát và buốt ở hậu môn, mót rặn khi đại Giai đoạn nghiêm trọng– Người bệnh đi đại tiện ra máu hơn 6 lần/ngày và thường xảy ra vào ban đêm.– Người bệnh bị đau bụng, đau rát và buốt hậu môn, mót rặn.– Cơ thể suy kiệt, sốt cao, thiếu máu nghiêm trọng, tim đập nhanh, huyết áp hạ, bụng trướng, giãn đại tràng.– Nguy cơ viêm loét lan rộng ra ngoài lớp niêm mạc gây suy giảm nhu động đại tràng, xuất huyết ồ ạt, phình giãn hoặc thủng đại tràng, nhiễm độc dẫn đến tử đại tràng xuất huyết gây đi ngoài phân máu4. Biến chứng nguy hiểm của viêm đại tràng xuất huyếtViêm loét đại tràng chảy máu nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe Suy nhược cơ thểViêm loét đại tràng xuất huyết kéo dài làm rối loạn chức năng đường ruột. Từ đó làm suy giảm quá trình hấp thụ chất dinh dưỡng cho cơ thể. Hơn nữa, bệnh viêm đại tràng buộc người bệnh phải ăn uống kiêng khem, không đủ chất nên cơ thể dễ bị suy nhược, gầy trạng suy nhược cơ thể kéo dài khiến người bệnh luôn trong trạng thái mệt mỏi, ăn không ngon miệng, mất ngủ, suy giảm sức đề kháng… Từ đó có nguy cơ mắc nhiều bệnh lý nguy hiểm Phình giãn đại tràng nhiễm độcKhi viêm loét đại tràng nặng, hệ tiêu hóa sản sinh quá nhiều oxit nitric gây độc cấp tính gây phình giãn đại tràng. Đại tràng giãn to chủ yếu phình giãn tại đại tràng ngang, đường kính trên 6cm. Phình giãn đại tràng là một cấp cứu nội khoa vì có nguy cơ gây thủng đại tràng. Do đó, nếu người bệnh xuất hiện các triệu chứng như sốt cao, nhịp tim nhanh, huyết áp hạ, mất nước, rối loạn tâm thần… thì cần phải cấp cứu ngay lập Chảy máu ồ ạtViêm đại trực tràng xuất huyết chuyển sang giai đoạn nghiêm trọng làm tăng nguy cơ chảy máu ồ ạt. Khi này, người bệnh có cảm giác đau quặn bụng, người toát mồ hôi, huyết áp tụt, tim đập nhanh, rối loạn tâm cơ chảy nhiều máu khiến người bệnh không đáp ứng với điều trị nội khoa mà cần chỉ định phẫu thuật ngoại khoa cắt toàn bộ đại tràng. Người bệnh cần phải được điều trị càng sớm càng tốt để không gây nguy hại đến tính Ung thư hóaNgười bệnh viêm loét đại tràng chảy máu có tỷ lệ ung thư hóa cao. Theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ mắc ung thư đại tràng trong 10 năm đầu của bệnh là 2%, 8% sau 20 năm và 18% sau 30 năm. Do đó, nếu người bệnh bị viêm đại tràng mãn tính, cần được kiểm tra sức khỏe định kỳ để sàng lọc ung thư và điều trị từ sớm nếu có nguy cơ.Viêm đại tràng xuất huyết gây biến chứng thành ung thư5. Điều trị viêm đại tràng xuất Điều trị nội khoa viêm đại tràng xuất huyếtNguyên tắc điều trịViêm đại tràng chảy máu cần được điều trị sớm để tránh phát sinh các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng. Việc điều trị bệnh cần căn cứ vào sức khỏe người bệnh và mức độ tiến triển của bệnh. Đồng thời cần tuân tuân thủ theo nguyên tắc sau– Đối với các trường hợp bệnh chưa từng điều trị Điều trị khởi đầu bằng 1 loại thuốc. Sau đó từ 10-15 ngày đánh giá đáp ứng dựa vào các triệu chứng lâm sàng.– Đối với các trường hợp bệnh đã hoặc đang điều trị có đợt tiến triển nặng Bắt đầu lại điều trị bằng hai loại thuốc đang điều trị và điều trị kết hợp thêm 1 loại thuốc khác.– Đối với trường hợp đã được điều trị và ngừng điều trị từ lâu Điều trị khởi đầu như trường hợp chưa được điều trị. Tuy nhiên nên bắt đầu điều trị bằng thuốc khác.– Đối với trường hợp bệnh nhẹ tổn thương tối thiểu ở trực tràng và đại tràng sigma Điều trị kết hợp thêm thuốc điều trị tại chỗ như viên đặt hậu môn và thuốc thụt.– Điều trị bao gồm điều trị tấn công và điều trị duy ý– Sử dụng thuốc theo đúng chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ điều trị.– Kết hợp truyền máu cho người bệnh trong trường hợp đại tràng vị xuất huyết nặng gây thiếu máu, tụt huyết áp liên tục.– Tuân thủ chế độ ăn uống giàu dinh dưỡng nhưng dễ tiêu hóa; kiêng các loại thức ăn nhiều dầu mỡ, cay nóng, rau sống, đồ uống có cồn…Người bệnh cần sử dụng thuốc theo chỉ định và hướng dẫn của bác Điều trị ngoại khoa viêm đại tràng xuất huyếtPhẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ đại tràng được chỉ định khi người bệnh gặp phải biến chứng nặng thủng đại tràng, phình giãn đại tràng nhiễm độc, chảy máu ồ ạt à điều trị nội khoa thất bại, ung thư hóa hoặc dị sản mức độ nặng hoặc người bệnh không đáp ứng với điều trị nội khoa. Hiện nay, có hai phương pháp phẫu thuật chủ yếu là mổ hở và mổ nội phương pháp mổ nội soi, bác sĩ thực hiện rạch những đường mổ rất nhỏ trên ổ bụng. Sau đó sử dụng dụng cụ phẫu thuật để cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ ruột già. Phương pháp này có nhiều ưu điểm như vết mổ nhỏ, ít đau, ít chảy máu và hạn chế sau phẫu thuật hơn so với mổ hở. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, nhất là khi người bệnh gặp các tình huống nguy kịch như ung thư thì mổ hở là phương pháp được ưu Những lưu ý cho người bệnh viêm loét đại tràngKhi bị viêm đại tràng chảy máu, người bệnh cần lưu ý– Kiểm tra sức khỏe định kỳ, theo dõi thường xuyên 6 tháng/lần bằng nội soi đại tràng, sinh thiết đại tràng để phát hiện dầu hiệu tiền ung thư.– Đến ngay các cơ sở y tế để được kiểm tra và điều trị kịp thời trong trường hợp phát hiện có những rối loạn đại tiện, thay đổi tính chất phân không khuôn, phân lẫn máu, đau bụng,..– Điều chỉnh chế độ ăn uống người bệnh nên ăn những thức ăn mềm, ít chất xơ như cháo, cơm nhão, thịt nạc, cá,…; tránh ăn các loại thịt đỏ, đồ cay nóng, đồ chiên rán, rau sống, thức uống có cồn, chất kích thích….– Giữ tinh thần luôn lạc quan, thoải mái; căng thẳng quá mức hay stress kéo dài có thể khiến bệnh trở nên trầm trọng đại tràng xuất huyết hiện chưa có điều trị khỏi bệnh hoàn toàn. Do đó, bên cạnh việc tuân thủ theo phác đồ điều trị của bác sĩ, người bệnh cần xây dựng chế độ ăn uống và lối sống tốt cho hệ tiêu hóa. Ngay khi phát hiệu có các dấu hiệu và triệu chứng nghi ngờ, người bệnh cần đi thăm khám sớm để được chẩn đoán và điều trị kịp thời khi tổn thương chưa lan rộng.
Ung thư đại tràng hay còn gọi là ung thư ruột già là một loại ung thư thường gặp ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Ung thư đại tràng là một trong những loại ung thư đường tiêu hóa có tiên lượng tốt trong trường hợp phát hiện khi bệnh còn ở giai đoạn sớm hoặc các tổn thương tiền ung thư. Nếu phát hiện muộn thì khả năng điều trị rất ít hiệu quả. Bệnh học ung thư đại tràng Ung thư đại tràng có thể gặp ở bất cứ vị trí nào của đại tràng đại tràng sigma, đại tràng xuống, đại tràng ngang, đại tràng lên và manh tràng. Bệnh phát triển với 4 giai đoạn chính, được phân loại dựa trên cấu trúc của đại tràng và cách tế bào lây lan từ đại tràng tới các bộ phận khác của cơ thể. Giai đoạn ung thư càng muộn thì tiên lượng sống càng giảm. Ung thư giai đoạn đầu thường phát triển chậm hơn và có tiên lượng tốt hơn. Giai đoạn I Đây là giai đoạn sớm nhất của ung thư đại tràng, được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ, lúc này ung thư vẫn chỉ giới hạn trong đại tràng. Trong giai đoạn này, các tế bào ung thư chỉ có ở niêm mạc, phát triển trong các lớp của đại tràng. Giai đoạn II Trong giai đoạn này, các tế bào ung thư bắt đầu lan ra và xâm lấn tới các khu vực khác trong đại tràng, nhưng chưa di căn tới các cơ quan khác của cơ thể. Giai đoạn này được phân loại thành các giai đoạn nhỏ IIa, IIb và IIc, dựa trên sự lan xa của các tế bào ung thư. Giai đoạn III Trong giai đoạn này, các tế bào ung thư bắt đầu lan đến các hạch bạch huyết lân cận. Giai đoạn này được chia thành IIIa, IIIb và IIIc dựa trên số lượng hạch bạch huyết bị ảnh hưởng bởi ung thư. Giai đoạn IV Đây là ung thư đại tràng giai đoạn cuối, các tế bào ung thư di căn tới các cơ quan khác của cơ thể. Giai đoạn IVa Ung thư đã phát triển qua tất cả các lớp của thành ruột và xâm lấn sang các hạch bạch huyết vùng, đồng thời di căn đến một phần xa của cơ thể, chẳng hạn như gan hoặc phổi. Giai đoạn IVb Ung thư đã di căn ra hơn một phần xa của cơ thể Ung thư đại tràng có chữa được không? Ung thư đại tràng là loại ung thư gây tử vong cao thứ tư trên thế giới sau ung thư phổi, ung thư dạ dày và ung thư gan. Tuy nhiên, nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm thì tỷ lệ được chữa khỏi lên tới 90%, thậm chí có người đã sống khỏe mạnh hơn 20 năm sau khi phát hiện bệnh. Tiên lượng sống sau 5 năm ở người bị ung thư tùy thuộc vào giai đoạn bệnh, nếu phát hiện khi bệnh ở giai đoạn sớm thì điều trị hiệu quả hơn. Tiên lượng sống sau 5 năm theo giai đoạn là Giai đoạn 1 90% Giai đoạn 2 80-83% Giai đoạn 3 60% Giai đoạn 4 11% Nguyên nhân ung thư đại tràng bao gồm Polyp đại tràng Là nguyên nhân quan trọng gây ung thư đại tràng. Theo một nghiên cứu, trên 50% trường hợp ung thư đại tràng phát sinh trên cơ sở của polyp đại tràng. Số lượng polyp càng nhiều thì tỷ lệ ung thư hoá càng cao. Các bệnh đại tràng mãn tính Ung thư đại tràng có thể phát sinh trên tổn thương của các bệnh lỵ, amip, lao, giang mai, thương hàn và các bệnh lý khác của đại tràng như viêm loét đại tràng mãn tính Chế độ ăn uống ít chất bã, nhiều mỡ và đạm động vật Chế độ ăn này làm thay đổi vi khuẩn yếm khí ở đại tràng, biến acid mật và cholesterol thành những chất gây ung thư. Đồng thời thức ăn ít bã làm giảm khối lượng phân gây táo bón, chất gây ung thư sẽ tiếp xúc với niêm mạc ruột lâu hơn và cô đặc hơn, tác động lên biểu mô của đại tràng. Các chất phân hủy của đạm như indol, seatol, piridin là những chất gây ung thư trong thực nghiệm, cũng có thể gây ung thư trên người. Yếu tố di truyền Bệnh polyp đại tràng gia đình liên quan tới đột biến của gen APC Adenomatous polyposis coli, chiếm 1% các ung thư đại tràng. Ngoài ra, HNPCC còn gọi là hội chứng Lynch, liên quan tới gen P53, RAS và DCC. Chiếm 5% trong số các ung thư đại trực tràng. Triệu chứng ung thư đại tràng bao gồm 1. Đau bụng Đau bụng là một trong những triệu chứng sớm nhất và có ở 70 - 80% bệnh nhân ung thư đại tràng. Hoàn cảnh xuất hiện cơn đau không theo một quy luật nào có thể đau bất kỳ lúc nào trong ngày, không liên quan đến bữa ăn, vị trí đau thường ở vùng bị ung thư. Cơn đau có thể dài hay ngắn, từ vài phút đến vài giờ. Cường độ đau lúc đầu thì ít, về sau đau nhiều. Ung thư ở đại tràng phải đến muộn thường có triệu chứng bán tắc ruột người bệnh đau bụng từng cơn, đôi khi thấy sôi bụng, sau khi trung tiện được thì hết đau hội chứng Koenig. Ung thư ở đại tràng trái thường đau dữ dội khi có biến chứng tắc ruột. 2. Rối loạn tiêu hoá Thường có ở 60% bệnh nhân ung thư đại tràng Biểu hiện bằng táo bón, tiêu lỏng hoặc xen kẽ giữa táo bón và tiêu lỏng. Táo bón thường thấy ở ung thư đại tràng trái nhiều hơn, táo bón kéo dài làm người bệnh khó chịu, nhức đầu, chán ăn, ảnh hưởng đến sức khoẻ. Dùng thuốc nhuận tràng người bệnh có thể đi tiêu trở lại, nhưng sau đó lại táo bón tiếp tục. Táo bón là do ung thư làm hẹp lòng ruột, cản trở lưu thông của phân, gây ứ đọng phân. Hiện tượng ứ đọng phân làm tăng quá trình thối rữa và lên men, sinh nhiều hơi, làm bụng chướng đồng thời cũng tăng bài tiết chất nhầy ở ruột, những chất nhầy này sẽ làm tiêu lỏng với phân lẫn chất nhầy và đôi khi có máu. 3. Phân lẫn máu Người bệnh đi tiêu, phân thường có máu do chảy máu ở vị trí ung thư bên phải bị nhiều hơn bên trái. Xuất huyết ở đại tràng phải phân thường có màu đỏ sẫm, xuất huyết ở đại tràng trái phân có màu đỏ tươi hơn. Phân lẫn máu thường có ít chất nhầy của niêm mạc ruột. Hiện tượng xuất huyết thường rỉ rả, từng ít một nên lúc đầu không làm ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh. Sau đó do mất máu kéo dài nên làm người bệnh thiếu máu. 4. Triệu chứng toàn thân Do các sản phẩm thoái hoá của tổ chức ung thư và các chất trong ruột đã được hấp thụ qua thành ruột vào cơ thể, thường gặp ở ung thư đại tràng phải nhiều hơn ở ung thư đại tràng trái Sụt cân có thể sụt cân từ từ làm người bệnh không chú ý, nhưng cũng có khi sụt cân nhanh 5kg trong 1 tháng, kèm theo các triệu chứng chán ăn, mệt mỏi. Thiếu máu đặc điểm của thiếu máu trong ung thư đại tràng là thiếu máu mà không biểu hiện rõ sự mất máu nên khó phát hiện. Sốt khoảng 16%- 18% bệnh nhân ung thư đại tràng có triệu chứng duy nhất là sốt. 5. Khối u Gặp ở 60% nhân bệnh ung thư đại tràng Ung thư đại tràng phải dễ sờ thấy u hơn ở đại tràng trái. U ở 2 góc phải và trái đại tràng thường khó sờ thấy vì bị che lấp. Khi sờ thấy u của đại tràng thì thường là bệnh đã đến giai đoạn muộn. Người trên 50 tuổi Người có tiền sử mắc các bệnh viêm nhiễm đại tràng mãn tính như viêm loét đại tràng chảy máu, bệnh Crohn Bản thân hoặc gia đình có người mắc bệnh polyp đại tràng, đặc biệt là đa polyp có tính chất gia đình, hội chứng Lynch Có chế độ ăn không hợp lý nhiều chất béo, ít chất xơ Lười hoạt động thể chất, hút thuốc, béo phì Các bệnh khác bệnh nhân chiếu xạ ổ bụng, bị to đầu chi, bệnh nhân ghép thận Kiểm tra đại trực tràng thường xuyên Là một trong những cách tốt nhất để phòng tránh ung thư Polyp tiền ung thư thường không biểu hiện triệu chứng, có thể được tìm thấy qua nội soi đại tràng vài năm trước khi ung thư xâm lấn phát triển Duy trì thói quen ăn uống lành mạnh Tránh ăn nhiều thịt, dầu mỡ, thức ăn chiên nướng Hạn chế thức uống có cồn, thuốc lá Ăn nhiều chất xơ rau xanh, trái cây Thường xuyên tập thể dục Chẩn đoán ung thư đại tràng dựa vào các triệu chứng lâm sàng, X-quang và nội soi 1. Lâm sàng Bệnh được chia thành 6 thể lâm sàng Thể viêm ruột 40-50% Thể rối loạn tiêu hoá 20-25% Thể nhiễm độc và thiếu máu 10-15% Thể tắc ruột 30-35% Thể viêm nhiễm các cơ quan trong ổ bụng như viêm ruột thừa, viêm túi mật, viêm tụy cấp, … 5-7% Thể u 2-3% 2. X-quang X-quang là một phương pháp phổ biến và có giá trị để chẩn đoán ung thư đại tràng. Có 2 phương pháp thường dùng Chụp cản quang khung đại tràng bằng thuốc baryt Chụp cản quang kép sau khi thụt baryt vào đại tràng để người bệnh đi tiêu rồi bơm hơi vào đại tràng để chụp, phương pháp này có thể phát hiện khối u rõ hơn 3. Nội soi tiêu hóa Nội soi được tiến hành khi hình ảnh X-quang của khối u không rõ hoặc khi cần phân biệt các khối u lành tính với ác tính của đại tràng và trong những trường hợp xuất huyết ở đại tràng không rõ nguyên nhân. Nội soi kết hợp với sinh thiết có giá trị lớn trong chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt ung thư đại tràng. 4. Các xét nghiệm khác chụp X-quang bụng, chụp CT scanner, chụp MRI, chụp PET,… có giá trị đánh giá giai đoạn bệnh 5. Xét nghiệm sàng lọc ung thư đại tràng Xét nghiệm máu ẩn trong phân FOBT máu trong phân có thể do nhiều nguyên nhân như polyp, ung thư, viêm loét đại trực tràng, trĩ… Vì vậy, nếu xét nghiệm dương tính cần nội soi đại trực tràng bằng ống mềm để kiểm tra. Nội soi đại tràng đánh giá toàn bộ khung đại tràng và trực tràng, giúp phát hiện các khối u ở kích thước khoảng vài milimet hoặc các bất thường khác của đại tràng như polyp đại tràng, túi thừa, các tổn thương loét, viêm do nhiễm khuẩn, … Xét nghiệm các dấu ấn ung thư bao gồm các dấu ấn CEA, CA 19-9 thường được sử dụng trong chẩn đoán ung thư đại tràng. Phương pháp điều trị được quyết định dựa trên giai đoạn của ung thư đại tràng Giai đoạn I đến IIIa thông thường có thể được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ khối u Giai đoạn IIIb hoặc IIIc hóa trị kèm theo phẫu thuật để ngăn ngừa các tế bào ung thư tấn công các cơ quan khác của cơ thể Giai đoạn IV hóa trị là phương pháp hiệu quả để điều trị ung thư Phẫu thuật Phẫu thuật dự phòng bệnh phẫu thuật cắt bỏ những thương tổn tiền ung thư góp phần tích cực làm hạ thấp tỷ lệ mắc bệnh Phẫu thuật điều trị ung thư có hai loại chỉ định chính là phẫu thuật triệt để và tạm thời. Việc áp dụng chỉ định nào hoàn toàn phụ thuộc vào giai đoạn bệnh Xạ trị Xạ trị có thể chữa khỏi bệnh, giúp kéo dài thời gian và điều trị triệu chứng bệnh ung thư. Hóa trị Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng các thuốc gây độc tế bào nhằm tiêu diệt các tế bào ác tính trong cơ thể người bệnh ung thư. 4. Liệu pháp miễn dịch tự thân Chỉ có tại Vinmec Bằng cách làm gia tăng sức mạnh của hệ miễn dịch tự nhiên trong cơ thể, liệu pháp miễn dịch tự thân là giải pháp đột phá điều trị ung thư - trong đó có ung thư đại tràng, Vinmec là bệnh viện đầu tiên tại Việt Nam được Bộ Y tế cấp phép triển khai kỹ thuật này. Xem thêm thông tin TẠI ĐÂY. Xem thêm Nội soi đại tràng - chìa khóa phát hiện sớm ung thư đại tràng Tại sao cần sàng lọc bệnh ung thư đại tràng? Các biện pháp chẩn đoán ung thư đại tràng Ung thư đại tràng di căn sống được bao lâu? Bệnh ung thư nào có thể sử dụng liệu pháp tăng cường hệ miễn dịch tự thân trong điều trị? Liệu pháp miễn dịch tự thân – Hy vọng mới cho người bệnh ung thư
Triệu chứng đau đại tràng là một trong những dấu hiệu thường gặp ở đường tiêu hóa. Hãy cùng Docosan tìm hiểu xem một số thông tin về đau đại tràng trong bài viết dưới đây nhé! Đại tràng hay còn được biết đến với tên gọi khác là ruột già. Đây là một trong những bộ phận quan trọng của hệ tiêu hóa. Ruột già ở người có độ dài từ 1,2 đến 1,5 mét. Sở dĩ có vai trò quan trọng như vậy là vì ruột già giúp tái hấp thu nước, điện giải, giúp cơ thể tổng hợp một số loại vitamin, bài tiết dịch, tạo phân để đưa ra ngoài cơ thể. Về mặt giải phẫu, ruột già được chia thành 3 đoạn chính manh tràng – phần tiếp nối với ruột non, kết tràng và cuối cùng là trực tràng tiếp nối với ống hậu môn. Kết tràng được chia thành các đoạn kết tràng lên kết tràng phải, kết tràng ngang, kết tràng xuống kết tràng trái và đoạn cuối cùng trước khi tiếp nối với trực tràng là kết tràng sigma do có hình dạng uống cong giống ký hiệu sigma. Trong cơ thể người, thức ăn sau khi được ruột non hấp thụ các chất dinh dưỡng để đưa vào máu thì phần còn lại sẽ tiếp tục được hấp thu tại ruột già. Tại manh tràng sẽ tiến hành hấp thụ các chất điện giải, nước, đồng thời hệ vi sinh gồm các vi khuẩn có lợi ở thành ruột sẽ phân hủy thức ăn tạo thành phân, tới kết tràng và trực tràng. Trực tràng co bóp tống phân ra ngoài qua ống hậu môn. Để lên men lượng lớn thức ăn chưa được tiêu hóa cần một lượng lớn vi khuẩn trong ruột do đó điều này sẽ tiềm ẩn các nguy cơ nhiễm khuẩn, nhiễm kí sinh trùng tại ruột vì đây là môi trường thuận lợi để vi khuẩn tấn công. Biểu hiện của hệ quả này là chứng đau đại tràng trong bệnh lý viêm đại tràng. Vi khuẩn tấn công các lớp bên trong thành ruột già ảnh hưởng đến cơ chế hoạt động của chúng. Trong các trường hợp nghiêm trọng, tổn thương kéo dài lâu ngày không được điều trị có thể dẫn tới các sang thương như lở loét đại ràng, rải rác theo chiều dài của ruột già dẫn tới vị trí đau ruột già có ở nhiều phần khác nhau của ruột già. Các cơn đau có thể kéo dài dai dẳng kèm theo các triệu chứng rối loạn tiêu hóa ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Đại tràng hay ruột già có kích thước rất dài chia thành nhiều đoạn với hình dạng gấp khúc nhiều lần do đó khi xảy ra tổn thương gây dấu hiệu đau đại tràng đôi khi sẽ làm người bệnh không biết được mình đang đau đại tràng ở vị trí nào, cảm giác đau mơ hồ. Tình trạng bệnh kéo dài cũng có thể làm người bệnh đau ở nhiều vị trí khác nhau. Bất cứ vị trí nào cũng có thể nghĩ tới tình trạng đau đại tràng. Vì đại tràng có kích thước khá dài, lại được chia thành nhiều phần nhỏ có hình dạng gấp khúc, cấu trúc phức tạp nên nếu bị viêm đại tràng bạn có thể bị đau ở rất nhiều vị trí khác nhau. Một số người thì đau đại tràng co thắt vùng quanh rốn nói chung, số khác lại đau ở một điểm cụ thể trên bụng. Đối với người có yếu tố nguy cơ rối loạn tiêu hóa, chế độ ăn uống không lành mạnh có thể gặp tình trạng vừa đau dạ dày vừa đau đại tràng. Các vị trí đau đại tràng có thể gặp như đau bụng trái, đau hạ vị, đau quanh rốn, đau hạ sườn hai bên, đau gần khu vực hố chậu. Trong trường hợp đau thượng vị có thể nhầm lẫn với đa dạ dày. Nguyên nhân đau đại tràng Các nguyên nhân đau đại tràng được biết đến nhiều nhất hiện nay thông qua cơ chế gây viêm đại tràng bao gồm Chế độ ăn uống không lành mạnhLối sống căng thẳngChế độ ăn kiêngThuốc điều trị Khi đại tràng khỏe mạnh chúng sẽ loại bỏ các chất thải một cách hiệu quả. Tuy nhiên khi có bất kì tổn thương nào xảy ra trên ruột già sẽ xuất hiện các triệu chứng như đau đại tràng, tiêu chảy, nôn ói, … Các bệnh lý có thể gây đau đại tràng thường gặp nhất bao gồm Viêm loét đại tràng, gây đau ở đại tràng sigma – phần cuối cùng của ruột già nối với trực tràng. Bệnh Crohn, thường gây đau quanh rốn hoặc ở phía dưới bên phải của túi thừa có thể gây đau đại tràng sigma Hội chứng ruột kích thích, thường gây đau ở bụng dưới bên trái Bệnh lý ác tính như ung thư trực tràng, hiếm khi gây đau bụng mà thường gây các biến đổi trong thói quen đại tiện. Các dấu hiệu nhận biết bệnh lý đại tràng gây đau có thể gặp bao gồm Thay đổi về thói quen đi cầu và tính chất phân thay đổi số lần đi cầu, biểu hiện là đi ngoài phân lúc lỏng, lúc rắn, phân có thể bị nát, không đóng thành khuôn hoặc bị táo bón hoặc tiêu chảy có thể lên tới 6, 7 lần/ngày. Đi kèm có thể có cảm giác mót rặn, đi tiêu không hết phân. Đau bụng những cơn đau xuất hiện đột ngột, lúc âm ỉ, lúc dữ dội, lúc lại có cảm giác như kim đâm. Kèm theo đau bụng người bị viêm đại tràng còn gặp phải các triệu chứng khác như căng chướng, đầy hơi, khó tiêu, dấu óc ách…Đi phân lỏng, có mùi tanh kèm theo dịch mủ hoặc máu. Đau đại tràng uống thuốc gì? Các bệnh lý viêm đường ruột được kích hoạt hoặc trở nên trầm trọng hơn do chế độ ăn uống thiếu chất, ăn uống không lành mạnh. Trên thực tế, có thể ngăn ngừa tới 70% nguy cơ mắc các bệnh lý như ung thư đại trực tràng thông qua thay đổi lối sống như ăn uống lành mạnh. Giảm ăn một số loại thực phẩm sau sẽ tốt hơn cho đại tràng Thịt đỏĐồ chiên nướngĐường tinh luyện và carbohydrate được chế biến sẵnRượuThức ăn nhiều dầu mỡ Vậy đau đại tràng uống thuốc gì? Việc điều trị đau tại đại tràng sẽ dựa vào các nguyên nhân gây ra bệnh và điều trị triệu chứng như giảm đau, cầm tiêu chảy, điều trị táo bón. Việc sử dụng thuốc điều trị đặc hiệu cho từng bệnh lý cần được kê đơn bởi bác sĩ, người bệnh tránh tự ý mua thuốc đặc biệt là kháng sinh vì nếu điều trị không đúng có thể gia tăng tỷ lệ kháng thuốc. Cảm ơn bạn đã tìm đọc bài viết “Đau đại tràng vị trí, nguyên nhân và biện pháp điều trị”. Hy vọng bài viết trên đã giúp bạn có thêm thông tin bổ ích dấu hiệu đau đại tràng. Bài viết được tham khảo từ bác sĩ và các nguồn tư liệu đáng tin cậy trong và ngoài nước. Tuy nhiên, Docosan Team khuyến khích bệnh nhân hãy tìm và đặt lịch hẹn với bác sĩ có chuyên môn để điều trị. Để được tư vấn trực tiếp, bạn đọc vui lòng liên hệ hotline 1900 638 082 hoặc CHAT để được hướng dẫn đặt hẹn. Nguồn tham khảo NHS
Viêm đại tràng thể loét là một bệnh viêm mạn tính và loét xuất hiện ở niêm mạc đại tràng, thường đặc trưng nhất bởi tiêu chảy phân máu. Có thể có các triệu chứng ngoài ruột, đặc biệt là viêm khớp. Nguy cơ dài hạn là ung thư đại tràng tăng lên so với những người không bị ảnh hưởng. Chẩn đoán bằng nội soi đại tràng. Điều trị bằng axit 5-aminosalicylic, corticosteroid, thuốc điều biến miễn dịch, thuốc sinh học, kháng sinh và đôi khi là phẫu thuật. Viêm đại tràng thể loét thường khởi đầu ở trực tràng. Bệnh có thể chỉ cục bộ ở trực tràng viêm trực tràng thể loét hoặc lan rộng đến đầu gần, đôi khi ảnh hưởng đến toàn bộ đại tràng. Hiếm khi tổn thương hầu hết đại tràng cùng một do viêm đại tràng thể loét ảnh hưởng đến lớp niêm mạc và dưới niêm mạc và có một ranh giới rõ ràng giữa mô bình thường và mô bị ảnh hưởng. Chỉ trong thể bệnh nặng lớp cơ mới bị ảnh hưởng. Trong giai đoạn sớm của bệnh, màng nhầy hồng đỏ, có dạng hạt nhỏ và dễ vỡ, mất dạng mạch bình thường và thường có các vùng xuất huyết rải rác. Loét niêm mạc rộng kèm theo xuất tiết mủ nhiều là đặc trưng của bệnh nặng. Các đảo niêm mạc viêm tương đối bình thường hoặc tăng sản giả polyp nằm phía trên các vùng niêm mạc bị loét. Rò và áp xe không xảy ra. Viêm đại tràng nhiễm độc hoặc viêm đại tràng tối cấp xảy ra khi loét lan rộng xuyên thành dẫn đến viêm phúc mạc và tắc ruột cơ năng cục bộ. Trong vài giờ đến vài ngày, đại tràng mất trương lực cơ và bắt đầu giãn thuật ngữ phình đại tràng nhiễm độc và giãn do nhiễm độc không khuyến khích dùng vì trạng thái viêm nhiễm độc và các biến chứng của nó có thể xảy ra mà không có phình đại tràng miễn cưỡng được định nghĩa là đường kính đại tràng ngang > 6 cm trong đợt cấp. Viêm đại tràng nhiễm độc là tình trạng cấp cứu nội khoa, thường xảy ra tự phát trong quá trình diễn biến của viêm đại tràng rất nặng, nhưng đôi khi bị xảy ra do thuốc cầm tiêu chảy opioid hoặc kháng cholinergic. Có thể thủng đại tràng, làm tăng đáng kể tỷ lệ tử vong. Các triệu chứng và dấu hiệu của viêm đại tràng thể loét Bệnh nhân thường có Các đợt tiêu chảy có máu với cường độ và thời gian khác nhau xen kẽ với các khoảng thời gian không có triệu chứngThông thường một đợt bệnh bắt đầu âm thầm, tăng dần cảm giác mót đại tiện, đau quặn bụng dưới mức độ nhẹ và có nhầy máu trong phân. Một số trường hợp xuất hiện sau khi nhiễm trùng ví dụ, lỵ amip, lỵ trực khuẩn.Khi vết loét khu trú ở trực tràng đại tràng sigma, phân có thể bình thường hoặc cứng và khô, nhưng trực tràng thải ra chất nhầy kèm theo hồng cầu và bạch cầu hoặc xảy ra giữa các lần đại tiện. Các triệu chứng toàn thân không có hoặc nhẹ. Nếu loét lan đến đầu gần, phân trở nên lỏng và bệnh nhân có thể đi ngoài > 10 lần/ngày, thường đau quặn bụng dữ dội và cảm giác buốt mót ở trực tràng, không giảm về đêm. Phân có thể toàn nước hoặc chứa chất nhầy và thường gồm gần như toàn bộ máu và mủ. Viêm đại tràng nhiễm độc hoặc tối cấp biểu hiện ban đầu với tiêu chảy đột ngột dữ dội, sốt đến 40° C 104° F, đau bụng, các dấu hiệu viêm phúc mạc ví dụ cảm ứng phúc mạc và nhiễm độc máu rõ. Triệu chứng và dấu hiệu toàn thân, phổ biến hơn ở viêm đại tràng thể loét lan tỏa, bao gồm mệt mỏi, sốt, thiếu máu, chán ăn và sút cân. Các biểu hiện ngoài đường tiêu hóa của bệnh viêm ruột Các biểu hiện ngoài ruột Bệnh viêm ruột IBD, bao gồm Bệnh Crohn và viêm đại tràng thể loét, là một tình trạng tái phát và thuyên giảm, đặc trưng bởi tình trạng viêm mạn tính tại các vị trí khác nhau trong đường tiêu... đọc thêm IBD, đặc biệt là các biến chứng ở khớp và ở da, thường gặp nhất khi có các triệu chứng toàn thân. Nuôi cấy và soi phân để loại trừ các nguyên nhân lây nhiễmNội soi đại tràng sigma có sinh thiết Ở tất cả các bệnh nhân, cấy phân tìm mầm bệnh đường ruột Căn nguyên Viêm dạ dày ruột là viêm lớp niêm mạc dạ dày, ruột non và đại tràng. Hầu hết các trường hợp đều do nhiễm trùng, mặc dù viêm dạ dày ruột có thể xảy ra sau uống thuốc và nuốt phải chất độc hoá... đọc thêm nên được thực hiện, và Entamoeba histolytica nên được loại trừ bằng cách xét nghiệm các mẫu bệnh phẩm phân tươi. Khi nghi ngờ nhiễm amip Nhiễm amip Nhiễm amip là bệnh nhiễm đơn bào Entamoeba histolytica. Bệnh lây truyền qua đường phân - miệng. Khi nhiễm amip thông thường không có triệu chứng, tuy nhiên các triệu chứng đi ngoài nhẹ... đọc thêm do tiền sử dịch tễ hoặc tiền sử du lịch nên làm chuẩn độ huyết thanh và sinh thiết. Tiền sử sử dụng kháng sinh trước đây hoặc nhập viện gần đây nên nhanh chóng xét nghiệm phân để tìm độc tố Clostridioides difficile trước kia Clostridium difficile. Bệnh nhân có nguy cơ nên được kiểm tra HIV, lậu, herpesvirus, chlamydia và nhiễm amip. Nhiễm trùng cơ hội ví dụ, cytomegalovirus, Mycobacterium avium-intracellulare hoặc ung thư Kaposi cũng phải được xem xét ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Ở phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai đường uống, có thể có viêm đại tràng do thuốc tránh thai; tình trạng này thường tự hết sau khi ngừng liệu pháp hormon. Xét nghiệm phân tìm lactoferrin và calprotectin trong phân có thể có lợi trong việc phân biệt IBD với tiêu chảy chức năng. Cần thực hiện nội soi đại tràng sigma; cho phép xác định trực quan viêm đại tràng và cho phép trực tiếp lấy mẫu phân hoặc chất nhầy để nuôi cấy và đánh giá vi thể, cũng như sinh thiết các vùng bị tổn thương. Mặc dù việc đánh giá bằng mắt thường và sinh thiết có thể không có ý nghĩa chẩn đoán, bởi vì có nhiều chồng chéo giữa các loại viêm đại tràng, viêm cấp đại cấp tính, tự khỏi, nhiễm trùng có thể được phân biệt về mô học với bệnh viêm đại tràng thể loét tự phát mạn tính hoặc viêm đại tràng Crohn. Bệnh quanh trực tràng nặng, không biểu hiện ở trực tràng, không có chảy máu và tổn thương bất đối xứng hoặc từng đoạn của đại tràng cho biết bệnh Crohn thay vì viêm đại tràng thể loét. Nội soi đại tràng thường không cần thiết lúc đầu nhưng nên được thực hiện chọn lọc nếu viêm đã lan gần tới tầm với của ống soi đại tràng nghiệm cần phải được thực hiện để sàng lọc thiếu máu, giảm albumin máu và các bất thường về điện giải. Các xét nghiệm gan nên được thực hiện; nồng độ phosphatase kiềm và gamma-glutamyl transpeptidase tăng cao cho thấy có thể có viêm đường mật xơ cứng nguyên phát. Các Kháng thể kháng bào tương của bạch cầu đa nhân trung tính quanh nhân tương đối đặc hiệu 60 đến 70% đối với viêm loét đại tràng. Kháng thể kháng Saccharomyces cerevisiae tương đối đặc hiệu đối với bệnh Crohn. Tuy nhiên, các xét nghiệm này không phân biệt được hai bệnh một cách đáng tin cậy và không được khuyến cáo để chẩn đoán thường quy. Các bất thường khác có thể xảy ra trong phòng thí nghiệm bao gồm tăng bạch cầu, tăng tiểu cầu và tăng chất phản ứng giai đoạn cấp tính ví dụ, tốc độ máu lắng, protein phản ứng C. X-quang không nhằm chẩn đoán nhưng đôi khi phát hiện thấy các bất thường. X-quang bụng không chuẩn bị có thể thấy phù nề niêm mạc, mất rãnh ngang ruột già và phân không hình thành trong ruột bị bệnh. Thụt barium cho thấy những biến đổi tương tự, mặc dù rõ ràng hơn, và cũng có thể cho thấy các chỗ loét, nhưng không nên thụt trong giai đoạn cấp. Đại tràng cứng và ngắn cùng với teo hoặc niêm mạc dạng giả polyp thường xuất hiện sau vài năm bị bệnh. X-quang thấy dấu hiệu dấu ấn ngón cái và phân bố theo đoạn gợi ý nhiều đến thiếu máu ruột cục bộ hoặc có thể là viêm đại tràng Crohn hơn là viêm đại tràng thể loét. Bệnh nhân đã bị bệnh và tái phát các triệu chứng điển hình cần được khám, nhưng không phải lúc nào cũng cần tiến hành tất cả các xét nghiệm. Tùy thuộc vào thời gian và mức độ nặng của các triệu chứng, có thể thực hiện nội soi đại tràng sigma hoặc nội soi đại tràng và làm công thức máu. Nuôi cấy, xét nghiệm trứng và ký sinh trùng và độc tố của C. difficile cần được thực hiện khi có các triệu chứng tái phát không điển hình hoặc khi có một đợt cấp sau thời gian hồi phục dài, trong một đợt bùng phát dịch lây nhiễm, sau khi dùng kháng sinh, hoặc bất cứ khi nào bác sĩ lâm sàng nghi ngờ. Bệnh nhân cần phải nhập viện nhanh chóng trong thời gian phát bệnh nặng. Chụp X-quang tư thế nằm và đứng thẳng có thể cho thấy phình đại tràng hoặc khí tích lũy trong ruột thời gian dài liên tục và liệt đoạn đại tràng do mất trương lực cơ. Cần tránh nội soi đại tràng và thụt barium vì có nguy cơ thủng, tuy nhiên nội soi đại tràng sigma cẩn thận thường được làm để đánh giá mức độ nặng và loại trừ nhiễm trùng. Cần có công thức máu, số lượng tiểu cầu, tốc độ máu lắngu, protein phản ứng C, chất điện giải và albumin; thời gian prothrombin, thời gian thromboplastin riêng phần, và nhóm máu và phản ứng chéo cũng được chỉ định trong trường hợp chảy máu nhân phải được theo dõi sát để xem có viêm phúc mạc tiến triển hoặc thủng không. Gõ gan rất quan trọng bởi vì mất độ đục gan có thể là dấu hiệu lâm sàng đầu tiên của thủng tự do, đặc biệt là ở bệnh nhân mà dấu hiệu phúc mạc bị giảm bởi corticosteroid liều cao. X-quang bụng được thực hiện 1 hoặc 2 ngày một lần để theo dõi diễn biến của giãn đại tràng và để phát hiện khí tự do hoặc khí trong thành ruột; CT nhạy hơn trong việc phát hiện khí ngoài lòng ruột hoặc áp xe quanh đại tràng. Thông thường, viêm đại tràng thẻ là bệnh mạn tính với những đợt cấp và thuyên giảm lặp đi lặp lại. Ở khoảng 10% số bệnh nhân, đợt tấn công ban đầu rất dữ dội kèm theo xuất huyết dữ rội, thủng, nhiễm khuẩn huyết và nhiễm độc huyết. Hồi phục hoàn toàn sau một đợt cơn cấp chiếm 10%.Bệnh nhân viêm đại tràng thể loét cục bộ có tiên lượng tốt nhất. Các biểu hiện toàn thân nặng, các biến chứng nhiễm độc và thoái hoá ác tính không có khả năng xảy ra và sự lan rộng ở giai đoạn muộn của bệnh xảy ra chỉ khoảng 20 đến 30%. Phẫu thuật hiếm khi cần và tuổi thọ ở mức bình thường. Tuy nhiên, các triệu chứng có thể chứng tỏ sự dai dẳng và kháng trị của bệnh. Hơn nữa, vì viêm đại tràng thể loét lan rộng có thể bắt đầu ở trực tràng và lan đến đầu gần, viêm trực tràng không được coi là cục bộ cho đến khi được theo dõi ≥ 6 tháng. Bệnh cục bộ mà sau đó lan rộng thường nặng hơn và kháng trị hơn. Ung thư bắt đầu xuất hiện khoảng 7 năm sau khi khởi phát bệnh ở những bệnh nhân viêm đại tràng lan tỏa và sau đó phát triển ở khoảng 0,5 đến 1% số bệnh nhân mỗi năm. Do đó, sau 20 năm bị bệnh, khoảng 7% đến 10% số bệnh nhân sẽ phát triển thành ung thư và khoảng 30% sau 35 năm bị bệnh. Tuy nhiên, những bệnh nhân bị bệnh viêm ruột và viêm xơ ống mật nguyên phát có nguy cơ ung thư cao hơn kể từ thời điểm chẩn đoán viêm đại sát bằng nội soi thường xuyên, tốt nhất là trong thời gian thuyên giảm, được khuyên dùng cho những bệnh nhân có thời gian mắc bệnh > 8 đến 10 năm ngoại trừ những người bị viêm trực tràng đơn độc hoặc khi có đồng thời viêm đường mật xơ cứng nguyên phát, trong trường hợp đó, nội soi đại tràng giám sát nên bắt đầu tại thời điểm chẩn đoán. Các nguyên tắc đề xuất làm sinh thiết ngẫu nhiên lấy 10 cm ở mỗi chỗ, khắp đại tràng khi sử dụng phương pháp nội soi đại tràng ánh sáng trắng độ nét cao nhưng chỉ làm sinh thiết nhắm mục tiêu các tổn thương có thể nhìn thấy khi sử dụng phương pháp nội soi bơm chất màu để phát hiện loạn sản. Phát hiện loạn sản ở bất kỳ mức độ nào trong vùng bị ảnh hưởng bởi viêm đại tràng có khả năng tiến triển thành giai đoạn tạo u tiến triển và thậm chí là ung thư. Sau khi loại bỏ hoàn toàn các tổn thương loạn sản có polyp hoặc không polyp bằng nội soi, giám sát bằng nội soi đại tràng được đề xuất thay vì phẫu thuật cắt đại tràng. Bệnh nhân có loạn sản không thể nhìn thấy bằng nội soi có thể được giới thiệu đến một bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa có chuyên môn về giám sát IBD bằng phương pháp nội soi bơm chất màu và/hoặc phương pháp nội soi đại tràng có độ nét cao để quyết định nên cắt đại tràng hay tiếp tục giám sát bằng nội soi đại tràng. Tần suất tối ưu của giám sát bằng nội soi đại tràng chưa được xác định, nhưng một số tác giả khuyến cáo cứ 2 năm một lần trong thấp kỷ thứ 2 của bệnh và sau đó hàng gian sống thêm lâu dài sau khi chẩn đoán ung thư liên quan đến viêm đại tràng là khoảng 50%, một con số tương đương với tỷ lệ ung thư đại trực tràng trong quần thể chung. Quản lý chế độ ăn và loperamide ngoại trừ đợt nặng cấp tính để giảm triệu chứngAxit 5-aminosalicylic 5-ASACorticosteroid và các thuốc khác tùy thuộc vào triệu chứng và mức độ nặngThuốc chống chuyển hóa, thuốc sinh học, thuốc ức chế Janus kinase hoặc thuốc điều biến thụ thể sphingosine 1-phosphate S1PĐôi khi phẫu thuật Tránh trái cây và hoa quả tươi nhằm hạn chế chấn thương niêm mạc đại tràng bị viêm và từ đó có thể làm giảm các triệu chứng. Chế độ ăn uống không sữa có thể có tác dụng nhưng không cần phải tiếp tục nếu không có lợi ích nào được ghi nhận. Loperamide 2 mg đường uống từ 2 đến 4 lần/ngày được chỉ định cho tiêu chảy tương đối nhẹ; liều cao hơn 4 mg vào buổi sáng và 2 mg sau mỗi lần đại tiện có thể được dùng cho tiêu chảy nặng hơn. Các thuốc chống tiêu chảy phải được sử dụng hết sức thận trọng trong các trường hợp nặng vì thuốc có thể gây ra giãn đại tràng nhiễm độc. Tất cả bệnh nhân bị bệnh viêm ruột nên được khuyên dùng một lượng canxi và vitamin D thích hợp. Bệnh nhân bị viêm đầu gần đến đại tràng sigma hoặc bệnh đại tràng bên trái không đáp ứng với thuốc bôi tại chỗ nên dùng một dạng bào thế 5-ASA Axit 5-aminosalicylic 5-ASA, Mesalamine Một vài loại thuốc có hiệu quả cho bệnh viêm đại tràng IBD. Chi tiết về lựa chọn và sử dụng thuốc được thảo luận ở từng rối loạn xem Điều trị bệnh Crohn và điều trị viêm đại tràng thể loét... đọc thêm đường uống ngoài dạng thụt của 5-ASA. Liều cao corticosteroid Corticosteroid Một vài loại thuốc có hiệu quả cho bệnh viêm đại tràng IBD. Chi tiết về lựa chọn và sử dụng thuốc được thảo luận ở từng rối loạn xem Điều trị bệnh Crohn và điều trị viêm đại tràng thể loét... đọc thêm được sử dụng cho các triệu chứng nặng hơn; sau 1 đến 2 tuần, liều hàng ngày sẽ giảm khoảng 5 đến 10 mg mỗi tuần. Liệu pháp thuốc điều biến miễn dịch Thuốc điều hòa miễn dịch Một vài loại thuốc có hiệu quả cho bệnh viêm đại tràng IBD. Chi tiết về lựa chọn và sử dụng thuốc được thảo luận ở từng rối loạn xem Điều trị bệnh Crohn và điều trị viêm đại tràng thể loét... đọc thêm bằng azathioprine hoặc 6-mercaptopurine có thể được sử dụng ở những bệnh nhân kháng trị với liều 5-ASA tối đa hoặc những bệnh nhân điều trị bằng corticoid kéo dài. Ngoài ra, infliximab, adalimumab, golimumab, ustekinumab và vedolizumab có lợi ở một số bệnh nhân và có thể được xem xét cho những người kháng trị với thuốc điều biến miễn dịch thất bại với thiopurine hoặc liệu pháp corticosteroid cũng như những người phụ thuộc corticosteroid. Hơn nữa, phối hợp của thuốc điều biến miễn dịch và liệu pháp kháng TNF Thuốc kháng TNF Một vài loại thuốc có hiệu quả cho bệnh viêm đại tràng IBD. Chi tiết về lựa chọn và sử dụng thuốc được thảo luận ở từng rối loạn xem Điều trị bệnh Crohn và điều trị viêm đại tràng thể loét... đọc thêm đôi khi hữu ích. Cuối cùng, ở một số bệnh nhân không đáp ứng với corticosteroid, thuốc ức chế miễn dịch hoặc thuốc sinh học, có thể xem xét thử dụng thuốc ức chế Janus kinase tofacitinib, hoặc thử dùng thuốc điều biến thụ thể sphingosine 1-phosphate, ozanimod. Bệnh nhân có đi ngoài phân máu > 10 lần mỗi ngày, nhịp tim nhanh, sốt cao hoặc đau bụng dữ dội cần phải nằm viện để dùng corticosteroid liều cao đường tĩnh mạch. 5-ASA có thể được tiếp tục. Bù dịch đường tĩnh mạch và truyền máu cần cho mất nước và thiếu máu. Bệnh nhân phải được theo dõi sát để xem có tiến triển của viêm đại tràng nhiễm độc không. Bồi dưỡng ngoài ruột đôi khi được sử dụng để hỗ trợ dinh dưỡng nhưng không có giá trị như một liệu pháp chính; những bệnh nhân có thể dung nạp được thức ăn nên ăn. Nếu nghi ngờ có viêm đại tràng nhiễm độc hoặc tối cấp, bệnh nhân nên Ngừng tất cả các thuốc chống tiêu chảyKhông ăn uống gì và đặt một ống dài vào ruột để hút dịch ngắt quãngĐiều trị tích cực bằng truyền dịch và điện giải natri clorua 0,9%, kali clorua và máu để điều trị khi cần thiếtCho dùng corticosteroid hoặc cyclosporine liều cao đường tĩnh mạchCho dùng kháng sinh ví dụ, metronidazole 500 mg đường tĩnh mạch 8 giờ một lần và ciprofloxacin 500 mg đường tĩnh mạch 12 giờ một lầnCó thể dùng InfliximabLăn trở bệnh nhân từ sấp sang ngửa trên giường từ 2 đến 3 giờ một lần có thể giúp phân bố lại khí trong đại tràng và ngăn ngừa chướng bụng tiến triển. Đặt ống thông trực tràng mềm cũng có thể hữu ích nhưng phải được thực hiện cẩn thận để tránh thủng ruột. Ngay cả khi loại bỏ chèn ép ở đại tràng bị giãn, bệnh nhân cũng không thoát khỏi nguy hiểm trừ khi quá trình viêm được kiểm soát; nếu không thì sẽ cần phải phẫu thuật cắt đại các biện pháp điều trị tích cực bằng thuốc không đem lại cải thiện rõ rệt trong vòng 24 đến 48 giờ, cần phải phẫu thuật ngay lập tức hoặc bệnh nhân có thể chết vì nhiễm khuẩn huyết do chuyển vị vi khuẩn hoặc thậm chí là do thủng. Sau điều trị hiệu quả một cơn bùng phát, giảm dần liều corticosteroid dựa trên đáp ứng lâm sàng và sau đó dừng bởi vì thuốc này không có hiệu quả duy trì. Bệnh nhân nên duy trì các thuốc 5-ASA đường uống hoặc đường trực tràng, tùy thuộc vào vị trí của bệnh - không xác định vì ngừng điều trị duy trì thường có tái phát bệnh. Khoảng liều dùng cho các chế phẩm trực tràng có thể dãn dài dần đến 2 hoặc 3 ngày một lần. Có rất nhiều bằng chứng cho thấy kết hợp liệu pháp đường uống và đường trực tràng có hiệu quả đáng kể so với dùng đơn độc một trong hai liệu bệnh nhân không thể ngừng sử dụng corticosteroid nên được dùng thiopurines azathioprine hoặc 6-mercaptopurine, thuốc kháng TNF, thuốc ức chế Janus kinase tofacitinib, hoặc kết hợp thiopurines hoặc methotrexate và thuốc kháng TNF. Đối với các trường hợp khó chữa hơn, vedolizumab kháng integrin cũng như infliximab, adalimumab, golimumab hoặc ustekinumab có thể được sử dụng cho cả điều trị duy trì viêm đại tràng thể loét và bệnh Crohn. Cuối cùng, ở một số bệnh nhân không đáp ứng với corticosteroid, thuốc ức chế miễn dịch hoặc thuốc sinh học, có thể thử dùng tofacitinib hoặc ozanimod làm điều trị duy trì. Gần một phần ba số bệnh nhân có viêm đại tràng thể loét lan tỏa sau cùng cũng cần phải phẫu thuật. Phẫu thuật cắt đại trực tràng toàn bộ là biện pháp điều trị khỏi Tuổi thọ được phục hồi trở lại bình thường, và nguy cơ ung thư đại tràng giảm đáng kể. Tuy nhiên, một số nghiên cứu báo cáo có tới 25% số bệnh nhân sau đó bị viêm niêm mạc ruột non phù hợp với bệnh Crohn 1 Tài liệu tham khảo về điều trị Viêm đại tràng thể loét là một bệnh viêm mạn tính và loét xuất hiện ở niêm mạc đại tràng, thường đặc trưng nhất bởi tiêu chảy phân máu. Có thể có các triệu chứng ngoài ruột, đặc biệt là viêm... đọc thêm , 2 Tài liệu tham khảo về điều trị Viêm đại tràng thể loét là một bệnh viêm mạn tính và loét xuất hiện ở niêm mạc đại tràng, thường đặc trưng nhất bởi tiêu chảy phân máu. Có thể có các triệu chứng ngoài ruột, đặc biệt là viêm... đọc thêm ; điều này có thể xảy ra nhiều năm sau khi phẫu thuật. Sau khi cắt đại trực tràng toàn bộ kèm theo nối túi hậu môn giả hồi tràng-hậu môn IPAA, vẫn có một nguy cơ nhỏ về loạn sản hoặc ung thư trong vùng chuyển tiếp hậu môn vòng bít trực tràng và ngay cả trong túi hậu môn giả ở hồi tràng. Sau phẫu thuật cắt trực tràng- đại tràng kèm theo mở thông hồi tràng hoặc IPAA, chất lượng cuộc sống được cải thiện; tuy nhiên, những thách thức mới về chất lượng cuộc sống được tạo thuật cắt đại tràng cấp cứu được chỉ định trong xuất huyết dữ dội, viêm đại tràng nhiễm độc tối cấp, hoặc thủng. Phẫu thuật cắt bỏ một phần đại tràng kèm theo mở thông hồi tràng và đóng trực tràng-đại tràng sigma thủ thuật Hartmann hoặc lỗ rò niêm mạc thường là các thủ thuật được lựa chọn vì hầu hết các bệnh nhân bị bệnh nguy kịch không thể chịu đựng được phẫu thuật lớn hơn. Gốc trực tràng-đại tràng sigma có thể được cắt bỏ khi mổ phiên sau đó hoặc có thể được sử dụng để nối hồi tràng hậu môn bằng túi hậu môn giả. Không nên để lại phần gốc trực tràng còn nguyên vẹn vì nguy cơ kích hoạt bệnh và chuyển thành ác thuật chọn lọc được chỉ định cho bệnh ung thư, hẹp có triệu chứng, chậm phát triển ở trẻ em, hoặc, thường là bệnh mạn tính khó chữa đem lại kết quả không giá trị hoặc phụ thuộc vào corticosteroid. Các biểu hiện ngoài ruột liên quan đến viêm đại tràng ví dụ, bệnh mủ da hoại thư, bây giờ được điều trị tốt hơn bằng cách điều trị bằng thuốc tích cực và hiếm khi có các chỉ định phẫu thuật. Phẫu thuật chọn lọc ở những bệnh nhân có chức năng cơ vòng bình thường là cắt đại trực tràng phục hồi bằng nối hồi tràng hậu môn. Thủ thuật này tạo ra một hồ chứa ở vùng chậu hoặc túi hậu môn giả từ đầu xa của hồi tràng, đoạn này được nối với hậu môn. Cơ thắt còn nguyên vẹn cho phép đại tiện tự chủ, thường từ 4-9 lần/ngày bao gồm 1 hoặc 2 lần vào ban đêm. Viêm túi hậu môn giả là một phản ứng viêm xảy ra sau khi cắt bỏ đại trực tràng phục hồi kèm theo IPAA ở khoảng 50% số bệnh nhân. Nguy cơ viêm túi hậu môn giả có vẻ cao hơn ở những bệnh nhân mắc viêm xơ ống mật nguyên phát, những bệnh nhân có biểu hiện ngoài ruột trước mổ và có thể ở những bệnh nhân có hiệu giá huyết thanh của kháng thể kháng bạch cầu đa nhân trung tính quanh nhân trước mổ cao và các chất chỉ điểm sinh học khác về viêm đại tràng cũng cao. Viêm túi hậu môn giả được cho là liên quan đến sự phát triển quá mức của vi khuẩn và được điều trị bằng kháng sinh ví dụ, quinolones. Lợi khuẩnc có thể có tác dụng bảo vệ. Hầu hết các trường hợp viêm túi hậu môn giả được kiểm soát dễ dàng, nhưng 5 đến 10% chứng tỏ không thể chịu đựng được tất cả các biện pháp điều trị bằng thuốc và cần phải chuyển sang mở thông hồi tràng thông thường Brooke. Đối với một số bệnh nhân cao tuổi, những người có gia đình và lối sống tốt, những người trương lực cơ thắt kém và không chịu được việc đi ngoài thường xuyên hoặc những người đơn giản là không thể hoặc không muốn đối mặt với hậu quả của viêm túi hậu môn giả thường xuyên hoặc mạn tính, mở thông hồi tràng Brooke vẫn là thủ thuật được lựa mọi trường hợp, gánh nặng về thể chất và tinh thần do bất kỳ hình thức cắt bỏ đại tràng nào đều phải được ghi nhận, và cần chú ý đến việc bệnh nhân có tất cả các hướng dẫn và tất cả các hỗ trợ y tế và tâm lý cần thiết trước và sau khi phẫu thuật. 1. Hercun J, Côté-Daigneault J, Lahaie RG, et al Crohn's disease after proctocolectomy and IPAA for ulcerative colitis. Dis Colon Rectum 642217–224, 2021. doi Shamah S, Schneider J, Korelitz BI High incidence of recurrent Crohn's disease following colectomy for ulcerative colitis revealed with long follow-up. Dig Dis Sci 632446–451, 2018. doi Viêm đại tràng thể loét khởi đầu trong trực tràng và có thể lan đến đầu gần theo kiểu lây nhiễm mà không ảnh hưởng các mảng ruột bình chứng là những cơn đau quặn bụng ngắt quãng và tiêu chảy phân có biến chứng bao gồm viêm đại tràng tối cấp, có thể dẫn đến thủng; lâu dài, nguy cơ ung thư đại tràng sẽ tăng trị bệnh mức độ nhẹ đến trung bình bằng 5-ASA đường trực tràng và đối với bệnh ở đoạn gần, qua đường trị bệnh trên diện rộng bằng corticosteroid liều cao, liệu pháp thuốc điều biến miễn dịch ví dụ, azathioprine, 6-mercaptopurine, thuốc sinh học ví dụ, infliximab, vedolizumab, tofacitinib, hoặc trị bệnh tối cấp bằng corticosteroid hoặc cyclosporine và kháng sinh ví dụ, metronidazole, ciprofloxacin hoặc infliximab liều cao đường tĩnh mạch; cắt đại tràng có thể cần một phần ba số bệnh nhân bị viêm đại tràng thể loét lan rộng cuối cùng cũng cần phẫu thuật. Sau đây là một nguồn thông tin bằng tiếng Anh có thể hữu ích. Vui lòng lưu ý rằng CẨM NANG không chịu trách nhiệm về nội dung của tài liệu này.
Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ Nội tiêu hóa - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng Túi thừa đại tràng là những túi nhỏ phình ra ở thành đại tràng. Các túi này có thể sẽ bị viêm, nhiễm trùng tạo ra tình trạng viêm túi thừa đại tràng và gây nguy hiểm cho người bệnh nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Túi thừa là một phần nhô ra giống như cái túi của thành đại tràng. Bệnh túi thừa được xác định bởi sự hiện diện của túi thừa. Bệnh túi thừa có thể không hoặc có triệu tễTỷ lệ mắc bệnh túi thừa phụ thuộc vào tuổi, ít hơn 20% ở tuổi 40 và tăng lên 60% ở tuổi 60. Sự phân bố của bệnh túi thừa đại tràng thay đổi theo vùng địa lýCác nước phương Tây và các nước công nghiệp phát triển có tỷ lệ hiện mắc bệnh từ 5 - 45%. Khoảng 65% bệnh nhân có túi thừa sigmoid. 24% bệnh nhân túi thừa chủ yếu liên quan đến đại tràng xích ma, nhưng cũng có ở các phần đại tràng khác; 7% bệnh nhân phân bố đều khắp đại tràng và 4% túi thừa được giới hạn ở một đoạn gần với đại tràng xích ma. Sự phân bố của túi thừa cũng có thể khác nhau tùy theo chủng Châu Á, tỷ lệ mắc bệnh túi thừa là từ 13 - 25%, và bệnh túi thừa chủ yếu là bên lệ mắc chứng bệnh túi thừa đã tăng lên cả ở Tây bán cầu và ở các nước áp dụng lối sống phương Tây hơn, ví dụ như Nhật Bản. 2. Triệu chứng của bệnh lý túi thừa đại tràng Chụp CT scan có thể thấy những ổ mủ viêm tại đại tràng Hầu hết 70 – 80% người có bệnh lý túi thừa đại tràng không có nhiều biểu hiện lâm sàng. Một số ít người bệnh có triệu chứng đau vùng bụng dưới bên trái, kèm theo cảm giác chướng bụng, đầy hơi. Bên cạnh đó các triệu chứng về tiêu hóa như táo bón, thi thoảng phân lỏng, phân có máu... Các triệu chứng khá khó phân biệt với hội chứng ruột kích thích. 3. Biến chứng bệnh lý túi thừa đại tràng Vi trùng từ đại tràng thoát vào ổ bụng sẽ gây viêm phúc mạc Bệnh lý túi thừa đại tràng biến chứng với tỷ lệ khá thấp nhưng nếu dẫn tới biến chứng thì gây ra tình trạng khá nghiêm trọng, trong đó viêm túi thừa là thường gặp Viêm túi thừa đại tràng4% túi thừa đại tràng có biến chứng viêm túi thừa, trong đó 15% có biến chứng áp xe, tắc, thủng, bụng là triệu chứng thường gặp nhất, thường đau ở hố chậu trái do liên quan đến đại tràng xích ma. Tuy nhiên, có thể đau hố phải hoặc đau trên xương mu đại tràng xích ma bị viêm hoặc ít gặp hơn là viêm túi thừa bên phải manh tràng. Cơn đau thường liên tục và thường xuất hiện trong vài ngày trước khi xuất hiện viêm túi thừa. Khoảng 50% bệnh nhân đã từng có một hoặc nhiều đợt đau tương tự trước nôn và nôn gặp 20 - 62% bệnh nhân do tắc ruột hoặc liệt ruột do kích thích phúc mạc. Bệnh nhân cũng có thể bị sốt nhẹ. Huyết động không ổn định với hạ huyết áp và sốc rất hiếm, có liên quan đến thủng và viêm phúc túi thừa cấp tính có thể làm đổi thói quen đại tiện, táo bón 50 % và tiêu chảy 25 – 35%. Rất hiếm đại tiện máu 10 - 15% bệnh nhân bị viêm túi thừa cấp tính có biểu hiện tiểu gấp, tiểu nhiều lần hoặc khó tiểu do bàng quang bị kích thích từ đại tràng xích ma bị thể sờ thấy một khối đau ở khoảng 20% bệnh nhân do viêm quanh đại tràng hoặc áp xe túi thừa. Bệnh nhân có thể có các dấu hiệu phúc mạc khu chứng viêm túi thừa 15%Áp xe - Áp xe túi thừa xảy ra ở khoảng 17% bệnh nhân nhập viện vì viêm túi thừa cấp tính. Các triệu chứng của áp xe túi thừa tương tự như viêm túi thừa cấp tính. Áp xe túi thừa có thể được ghi nhận trên CT bụng khi biểu hiện ban đầu hoặc có thể phát triển sau đó. Do đó nên nghi ngờ áp xe túi thừa ở những bệnh nhân bị viêm túi thừa không biến chứng không cải thiện tình trạng đau bụng hoặc sốt dai dẳng mặc dù đã điều trị kháng sinh ba một số trường hợp hiếm hoi, bệnh nhân có thể bị áp xe gan sinh mủ do sự lây lan của nhiễm trùng qua hệ tuần hoàn tắc nghẽn một phần đại tràng có thể xảy ra do hẹp tương đối do viêm túi thừa hoặc do áp xe túi thừa chèn túi thừa cấp tính cũng có thể gây tắc ruột non nếu một quai ruột non kết hợp với một khối viêm quanh đại theo mức độ và vị trí tắc nghẽn mà người bệnh có thể bị đau bụng, buồn nôn, nôn, chướng rò - viêm do viêm túi thừa cấp tính có thể dẫn đến hình thành một đường rò giữa đại tràng và các tạng lân nhân có lỗ rò đại tràng có thể bị đái ra máu, đái ra phân hoặc đái buốt. Bệnh nhân có lỗ rò âm đạo có thể báo cáo tình trạng đi ngoài ra phân hoặc đầy hơi qua âm - thủng gây viêm phúc mạc toàn thể có thể do vỡ áp xe túi thừa vào khoang phúc mạc hoặc vỡ tự do của túi thừa bị viêm với nhiễm bẩn phân của phúc mạc. Mặc dù chỉ có 1 - 2% bệnh nhân bị viêm túi thừa cấp tính bị thủng do viêm phúc mạc có mủ hoặc phân nhưng tỷ lệ tử vong lên tới 20%. Chướng bụng, phản ứng thành bụng, cảm ứng phúc mạc, mất âm máu túi thừa Chiếm tỷ lệ 5 -15% Xuất huyếtLà biến chứng của bệnh lý túi thừa đại tràng xảy ra do vỡ mạch máu ở túi thừa. Có thể đại tiện máu đỏ tươi hoặc đổ sẫm hoặc nâu tùy vị trí túi thừa và tốc độ chảy. Biến chứng xuất huyết thường xảy ra ở túi thừa đại tràng Thủng túi thừaLà tình huống ít gặp nhưng là biến chứng nguy hiểm nhất. Khi túi thừa đại tràng bị thủng, vi trùng từ đại tràng thoát vào ổ bụng sẽ gây viêm phúc mạc hoặc abscess. Người bệnh cần phải phẫu thuật để giải quyết. 4. Điều trị bệnh túi thừa đại tràng Người bệnh cần kiểm soát stress nhằm giảm co thắt đại tràng Để điều trị viêm túi thừa đại tràng phổ biến nhất trong bệnh lý túi thừa, người bệnh cần chữa nhiễm trùng, cho ruột nghỉ ngơi, hạn chế tối đa nguy cơ biến chứng nguy tình trạng viêm túi thừa nhẹ, người bệnh chỉ cần dùng kháng sinh 7-10 ngày, để ruột được nghỉ ngơi. Bệnh nhân phải ăn vài ngày, dùng thức ăn lỏng cho đến khi hết đau hẳn. Ngoài ra người bệnh có thể dùng thuốc giảm đau, chống co người bệnh đối mặt với cơn đau nhiều hơn, tình trạng nặng hơn, cần được điều trị tại bệnh viện, trước hết là truyền dịch, kháng sinh tĩnh mạch, giảm đau tĩnh mạch có thể nuôi dưỡng đường tĩnh mạch và được theo dõi điều trị phù hợp với tình trạng viêm túi thừa đại trường hợp bệnh lý thường xuyên tái phát, người bệnh có thể phải mổ cắt bỏ đoạn ruột bị máu túi thừa bù khối lượng tuần hoàn. Tùy từng trường hợp mà lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp điều trị qua nội soi, can thiệp mạch, phẫu thuật. 5. Phòng ngừa bệnh lý túi thừa Chúng ta hoàn toàn có thể phòng ngừa bệnh lý túi thừa đại tràng bằng cách tăng cường chất xơ trong mỗi bữa ăn. Chất xơ có trong vỏ lức của gạo, lúa mì, ngũ cốc và nhiều loại thực phẩm sẽ khiến phân mềm hơn, giảm áp lực trong lòng ruột trong quá trình tiêu hóa. Bên cạnh đó cần kiểm soát stress nhằm giảm co thắt đại tràng, hạn chế nguy cơ gây túi thừa đại khuyên từ các bác sĩ, để phòng ngừa và điều trị bệnh lý túi thừa hiệu quả thì mỗi người cầnCó chế độ ăn hợp lý, ăn nhiều chất xơ, rau củ quả, ngũ cốc, giảm lượng mỡ, hạn chế thịt màu các thức ăn nhiều hạt như vùng, dâu tây, bỏng ngô, ngô, ổi...Uống đủ 2 lít nước/ thể dục thể thao đều cân nếu thừa trì thói quen đại tiện đúng giờ, tránh bị táo thuốc thừa đại tràng có thể được phòng ngừa và điều trị sớm để hạn chế nguy cơ biến chứng nguy hiểm. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec với hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại cùng đội ngũ chuyên gia, bác sĩ nhiều năm kinh nghiệm trong khám điều trị bệnh, người bệnh hoàn toàn có thể yên tâm thăm khám và điều trị bệnh túi thừa đại tràng tại Bệnh viện. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Chẩn đoán bệnh viêm túi thừa cần làm gì? Thuốc Pentasa Công dụng, chỉ định và lưu ý khi dùng Chẩn đoán và điều trị túi thừa bàng quang
xuất huyết đại tràng